9 giờ 45 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, một ngày mùa thu lịch sử “quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” của Bác Hồ đã ngừng đập.
Thơ khóc Bác, tiễn Bác “vào cõi trường sinh” có nhiều bài hay. Một trong những bài hay nhất là bài “Bác ơi!” của Tố Hữu được viết khá sớm (ngày 6-9) nhanh chóng lan truyền, gây xúc động rất mạnh cho mọi người. “Bác ơi!”, “Như một điếu văn bi hùng bằng thơ” (Xuân Diệu) biểu lộ niềm đau xót tiếc thương vô hạn của Tố Hữu và của mọi người trước sự ra đi đột ngột của Bác và là sự đúc kết những suy nghĩ, chiêm nghiệm sâu sắc của Tố Hữu về con người và cuộc đời của Bác. Nỗi đau nhân gian, trần thế, nỗi đau của vũ trụ đất trời hóa thành lệ tuôn trào:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa
Làm sao tránh né được nỗi đau vô hạn này. Chính trong điếu văn của Trung ương Đảng cũng khẳng định: “Đau thương này thật là vô hạn”. Khi vĩnh biệt người thân, nỗi đau sẽ nhân lên lúc ta trực diện với di vật của người đã khuất. Tâm trạng Tố Hữu được cảm nhận qua phần diễn tả cảnh vật nơi Bác ở, ai đọc cũng xúc động. Tất cả hãy còn, nhưng tất cả đã trở nên vắng lặng: Phòng lặng, rèm buông, chuông không reo nữa... vườn rau, gốc dừa ướt lạnh... mãi mãi từ đây vắng Bác:
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay.
Để diễn tả nỗi đau xót tiếc thương vô hạn, không thể gói gọn trong nội hàm của ngôn từ ngữ nghĩa, Tố Hữu phải dùng biện pháp tu từ (“mây trắng” chỉ tóc bạc), biện pháp câu hỏi, câu cảm (“Trái bưởi kia vàng ngọt với ai? Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài”), biện pháp nhân hóa, cảnh ngụ tình, kết nối giữa cảnh “Trời tuôn mưa” và tình “Đời tuôn nước mắt”. Trạng thái tình cảm này làm ta nhớ đến, trước niềm đau Lê-nin từ trần, nhà thơ Ma-a-cốp-xky viết: Trẻ con bỗng nghiêm nghị/ Như người tóc bạc/ Và các cụ già như trẻ nhỏ/ Khóc hu hu.
Cái chết là quy luật tất yếu của tự nhiên. Nhưng Tố Hữu đã có ý thức khi nói đến cái chết của Bác bằng lời thổn thức: “Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!”. Tố Hữu không muốn nói trực tiếp đến cái chết vì sự nghiệp và lí tưởng chói ngời của Bác vẫn còn đây. Vì Bác ra đi còn để lại một di sản tinh thần vô giá:
Ánh hào quang đỏ thêm sông núi
Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!
Nhà thơ cộng sản thấm thía, xúc động ngợi ca lòng nhân đạo bao la của Bác bằng nhiều câu thơ có sức khái quát cao, gợi cảm sâu:
-Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người
-Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu
- Nâng niu tất cả chỉ quên mình
Từ lòng nhân đạo cao cả ấy, Bác đã hi sinh cả cuộc đời cho hạnh phúc của nhân dân như lòng mẹ lo cho con.
-Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ
Cho hôm nay và cho mai sau
-Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già
Nếu tình cảm nhân loại được hình tượng hóa bằng quả tim “Ôm cả non sông mọi kiếp người” thì tình cảm dân tộc của Bác lại càng thêm sâu sắc qua “nỗi nhớ nhà” “nỗi mong cha”. Suốt mấy chục năm, không một phút nào Bác không nghĩ đến đồng bào miền Nam. Bác đã nêu chân lí: “Miền Nam là ruột thịt, Nam Bắc là một nhà”. Bác nói với đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc câu nói thật cảm động: “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Không ai thương miền Nam bằng Bác Hồ và không ai kính yêu mong nhớ Bác Hồ bằng đồng bào miền Nam. Tình yêu thương ấy như chất ngọc trong ngần đã được Tố Hữu phản ánh qua sự đối ý “nỗi nhớ nhà”, “nỗi mong cha” của hai câu thơ đầy ấn tượng và gây xúc động sâu sắc”:
Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha.
Bác để tình thương cho mọi người, sống cuộc đời giản dị thanh bạch, khiêm tốn, Bác không thích chuyện “tượng đồng bia đá” dù cuộc đời của Bác thật là kì diệu. Phẩm chất cao đẹp ấy được Tố Hữu ngợi ca qua những câu thơ tuyệt đẹp nâng tầm khái quát tượng trưng sáng đẹp cho dân tộc:
Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải, hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn
Câu thơ hay bởi tính khái quát của nó, vừa nói được cái cao đẹp của một tâm hồn cộng sản Việt Nam, vừa tái hiện được phong cách dân tộc của Bác qua hình ảnh ngôn ngữ truyền thống “áo vải”, “muôn trượng” và một kết hợp từ mới tương quan “mong manh áo vải”, “hồn muôn trượng”.
Chủ nghĩa nhân đạo của Bác không phải là lòng thương người từ trên ban xuống của Phật, của Thánh nhân cao siêu mà bắt nguồn từ cuộc đời thực và gần gũi như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: Nét nổi bật ở Bác là lòng nhân đạo. Nghĩ đến công đức của Bác, Tố Hữu nhớ “đôi dép cũ nặng công ơn”. Bởi đôi dép ấy gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của Bác.
Ngày nay, đôi dép ấy đã trở thành kỉ vật thiêng liêng và vô giá của dân tộc ta.
Tình cảm được ý thức là sự thanh lọc tình cảm: “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” (Bác ơi!). Cuộc đời của Bác trong như pha lê, sáng như ánh sáng nên ta gần Bác, ánh sáng ấy tỏa sáng trong ta: “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta” (Sáng tháng năm – Tố Hữu).
Bác đã khơi dậy sự sống ở mọi người. Bác tiếp tục sống trong ta và muôn đời sau. Có đồng chí lãnh đạo Cu Ba đã gọi cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh “là mầm mống của sự sống”. Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta: “Vì đời của Người là một sự sống vĩ đại. Vì sự nghiệp của Người là sự nghiệp của sự sống, là sự nghiệp bảo vệ sự sống, bồi dưỡng sự sống, làm cho sự sống có ý nghĩa hơn, đẹp hơn” (Đặng Thai Mai). Vì vậy, Đảng và nhân dân ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Trong sự nghiệp vĩ đại của Bác Hồ, trong di sản đồ sộ mà Người để lại, Tố Hữu nhấn mạnh phần tinh thần là lời non nước, lời di chúc:
-Ra đi Bác dặn: còn non nước
(Bác ơi!)
-Bác đi... di chúc giục lòng ta
Cho cả muôn đời một khúc ca
Lẽ sống, niềm tin, mong ước lớn
Và tình thương, ân nghĩa bao la
(Theo chân Bác).
Khóc bác, tiễn Bác: “Nghĩa nặng lòng không dám khóc nhiều”, Đảng và nhân dân ta quyết biến đau thương thành hành động, thành sức mạnh:
-Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi
Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.
Ý kiến bạn đọc